Sự gia tăng của những người “lười biếng” đã khiến cho các món ăn chế biến sẵn, với ưu tiên “nhanh chóng”, trở thành món ăn yêu thích mới trên bàn ăn của mọi người, đặc biệt là đối với những người làm việc chăm chỉ hàng ngày và những tín đồ ẩm thực tích trữ thực phẩm để chống lại đại dịch. Hơn nữa, xin bật mí, dù bạn chưa bao giờ nghe đến món ăn chế biến sẵn, chỉ cần bạn đã gọi đồ ăn giao tận nhà hoặc ăn một số món snack, rất có thể bạn đã ăn những món này rồi.
Dữ liệu cho thấy, quy mô thị trường món ăn chế biến sẵn tại Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng tăng. Vào năm 2021, quy mô thị trường món ăn chế biến sẵn đạt 3459 tỷ đồng, dự báo năm 2022 lên tới 4196 tỷ đồng, và đến năm 2026 dự kiến đạt 10720 tỷ đồng.
Điều này cho thấy nhu cầu thị trường về món ăn chế biến sẵn rất lớn. Sự xuất hiện của những món ăn này đã mang lại niềm vui lớn cho nhiều người, giúp cho việc nấu nướng trở nên dễ dàng hơn với “5 phút cho một món ăn, 8 phút cho một món canh”, tập trung vào sự “nhanh chóng”! Không chỉ tiết kiệm thời gian, mà còn mang đến cho những người chưa có nhiều kinh nghiệm nấu nướng cơ hội trải nghiệm cảm giác làm “đầu bếp”.
Tuy nhiên, khi món ăn chế biến sẵn trở nên phổ biến, một số người sẽ nói: “Chẹp! Sao có thể ngon bằng món tôi nấu được!” Cũng có người đặt câu hỏi: Liệu có vấn đề an toàn thực phẩm nào không trong món ăn chế biến sẵn? Có ăn thường xuyên có tốt cho sức khỏe không? Nếu buộc phải thường xuyên ăn, làm thế nào để cân bằng giữa “đầy đủ” và “dinh dưỡng”? Chúng ta hãy cùng nhau bàn về những vấn đề mà mọi người quan tâm liên quan đến món ăn chế biến sẵn.
01
Món ăn chế biến sẵn là gì?
Món ăn chế biến sẵn (gói thức ăn) là những nguyên liệu có thể ăn được đã được chế biến qua một lần, thành phẩm tiên trình tạo thành sản phẩm bán thành phẩm hoặc thành phẩm, và được kết hợp với các nguyên liệu phụ tùy theo nhu cầu. Chúng thường sử dụng phụ gia thực phẩm, có thời hạn sử dụng dài, tiện lợi khi ăn.
Xét về loại hình, món ăn chế biến sẵn thường được chia thành 4 loại: thực phẩm chế biến sẵn có thể sử dụng ngay, thực phẩm chế biến sẵn nóng, thực phẩm chế biến sẵn nấu ngay, và thực phẩm chế biến sẵn kèm theo.
Ví dụ, những món tofu hay ức gà có thể ăn liền mà ta thường thấy là thực phẩm chế biến ngay; mì ăn liền sẽ cần phải ngâm nước sôi hoặc đun nóng mới ăn được là thực phẩm chế biến nóng; các món như thịt xào cá, thịt heo kho mè có thể xào đơn giản và ăn luôn, thuộc loại thực phẩm chế biến ngay; còn các món rau, thịt, nguyên liệu phụ đã được chia theo khẩu phần thuộc loại thực phẩm chế biến kèm theo.
Món ăn mà ta thường gọi giao tận nhà phần lớn là được làm từ thực phẩm chế biến ngay, thời gian chờ ngắn gọn, giao hàng nhanh chóng.
02
Ưu và nhược điểm của món ăn chế biến sẵn
Món ăn chế biến sẵn nhận được sự yêu thích của đa số mọi người, nhưng không phải vì tính thuận tiện mà không có thiếu sót, bên cạnh ưu điểm cũng có những nhược điểm.
Ưu điểm:
Sự khác biệt giữa món ăn chế biến sẵn và nấu ăn tại gia đó chính là đã bỏ qua các công đoạn mua sắm, rửa sạch, cắt thái, không cần tốn quá nhiều thời gian chuẩn bị thực phẩm và nấu nướng, tiết kiệm được nhiều công sức, rất tiện lợi.
Đối với các nhà hàng, món ăn chế biến sẵn còn giúp tiết kiệm nhân lực, không gian và chi phí ở mức lớn hơn, hơn nữa lại nhanh chóng trong việc phục vụ, khách hàng không cần phải chờ lâu, nhất là đối với việc giao hàng.
An toàn thực phẩm tương đối được đảm bảo: so với các nhà hàng, các món ăn chế biến sẵn được sản xuất bởi những nhà sản xuất uy tín sẽ an toàn và đáng tin cậy hơn về nguyên liệu.
Vào ngày 27 tháng 4 năm 2022, quy chuẩn tiêu chuẩn đánh giá chất lượng món ăn chế biến sẵn đầu tiên tại quốc gia được phát hành tại Nam Kinh, từ khâu mua sắm nguyên liệu thực phẩm, chế biến, yêu cầu đóng gói, thời hạn sử dụng và thời gian sử dụng tốt nhất, bảo quản và vận chuyển được quy định rõ ràng, đồng thời khuyến khích nguyên liệu thực phẩm có thể truy xuất nguồn gốc.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022, hội nghị thành lập Ủy ban Chuyên gia Món ăn Chế biến sẵn của Hiệp hội Ẩm thực Trung Quốc diễn ra tại thành phố Huệ An, và đã ban hành quy định làm việc cho Ủy ban. Điều này làm cho thị trường món ăn chế biến sẵn dần trở nên quy củ hơn, tính an toàn của nguyên liệu thực phẩm cao hơn.
Nhược điểm:
Đối với các gia đình, nếu món ăn chế biến sẵn trở thành lựa chọn chính cho cả ba bữa ăn hàng ngày, sẽ làm mất đi không khí được cùng nhau mua sắm, lựa chọn, rửa sạch thực phẩm với gia đình, không thể tận hưởng được cảm giác trọn vẹn trong nghi thức nấu ăn.
Hơn nữa, hương vị của món ăn chế biến sẵn đều đồng nhất, được chế biến dựa trên sở thích ẩm thực của phần lớn mọi người, không thể đáp ứng được yêu cầu khẩu vị riêng tư, không thể thỏa mãn nhu cầu khẩu vị khác nhau của từng người. Ví dụ, ăn một món thịt kho, nếu chọn món chế biến sẵn thì dù bạn ăn tại nhà hay gọi giao tận, khẩu vị cũng đều như nhau, không thể cảm nhận được “hương vị của mẹ” hay “hương vị gia đình”.
Về độ ngon không thể sánh bằng món ăn vừa mới làm xong, vì nguyên liệu đã được xử lý qua một lần nhiệt và sau khi thực khách nhận được phải được nấu nóng lần nữa, nên khẩu vị sẽ bị ảnh hưởng. Hơn nữa, nhiều món ăn chế biến sẵn đều được bảo quản lạnh, trong quá trình đông lạnh, thấu kính nước cũng sẽ ở một mức độ nhất định thay đổi độ giòn và kết cấu của thực phẩm, làm cho món ăn có phần “bột”.
Hương vị món ăn chế biến sẵn có thể không bằng món ăn tươi ngon, người ta đã nghiên cứu hương vị giữa món thịt xào cá chế biến và món thịt xào cá nhà hàng, kết quả cho thấy hương vị “cá xào” tổng thể tương tự nhau nhưng cũng có một số khác biệt, các hợp chất chứa lưu huỳnh, nitơ và các hợp chất vòng khác có ảnh hưởng lớn đến hương vị “cá” và “thịt” trong món xào. Dù hợp chất vòng trong món xào chế biến có nhiều hơn trong món nhà hàng, nhưng tỷ lệ thấp, làm cho một số hợp chất hương vị khó hình thành, dẫn đến hương thơm trong món chế biến không đạt được như món nhà hàng.
Dinh dưỡng trong món ăn chế biến sẵn khá đơn điệu, phần lớn món ăn chế biến sẵn có nhiều thịt, thậm chí có rau cũng có giới hạn nhất định, thường thấy là các loại như cà rốt, đậu hà lan, măng, khoai tây và những loại rau có thời gian bảo quản dài không dễ chuyển màu, thiếu hụt rau lá xanh.
03
Vấn đề lớn nhất khi tiêu thụ lâu dài
Món ăn chế biến sẵn dù tiện lợi nhanh chóng, đã chiếm được trái tim của nhiều người làm văn phòng và những người mới vào bếp. Nhưng vẫn không khuyến khích việc thường xuyên sử dụng món ăn chế biến sẵn cho cả ba bữa ăn, chủ yếu gặp phải 3 vấn đề sau:
Thiếu dinh dưỡng: Như đã đề cập ở trên, vì giới hạn về loại nguyên liệu, dẫn đến món ăn chế biến sẵn thường có dinh dưỡng đơn điệu. Dù carbohydrate, protein và chất béo có thể được đảm bảo tốt, nhưng lại khó giữ lại vitamin, khoáng chất, và các thành phần sinh học.
Những thành phần này có thể hao hụt nhiều trong quá trình chế biến do rửa nước, tiệt trùng nhiệt độ cao, vận chuyển và nhiều khâu khác, khi đến tay thực khách còn trải qua quá trình nấu nóng lại, dinh dưỡng còn bị hao hụt thêm nhiều hơn. Hơn nữa, các món chính trong món ăn chế biến sẵn thường là cơm trắng, khó để có thể kết hợp chính phụ.
Có thể gây béo phì: Nhiều món ăn chế biến sẵn để phục vụ khẩu vị của đại chúng cũng như thời gian bảo quản lâu hơn, thường chứa nhiều chất béo, calo không thấp.
Ví dụ như món bò hầm nước dưới đây, nếu bạn kiểm tra bảng thành phần dinh dưỡng sẽ thấy, lượng chất béo lên đến 16.1g/100g, lượng protein là 6.5g/100g. Thông tin trong trang mô tả chủ yếu nguyên liệu là thịt bò đùi, với lượng protein đạt 20.9g/100g và lượng chất béo là 2g/100g, rau đi kèm chủ yếu có nấm kim châm, lát măng, rong biển.
Nếu tính toán dựa trên bảng thành phần dinh dưỡng với lượng protein, giả sử protein hoàn toàn từ thịt bò, thì lượng thịt bò sẽ đạt khoảng 33g/100g, lượng chất béo từ thịt thì có thể gần như bỏ qua. Có nghĩa là trong 100g món bò hầm này, khoảng 16g là dầu chế biến. Trong khi trong “Hướng dẫn dinh dưỡng cho cư dân Trung Quốc” đề xuất, mỗi ngày lượng dầu chế biến ăn vào phải kiểm soát dưới 25~30g, mỗi bữa ăn chỉ nên tối đa 10g. Nếu thường xuyên ăn các món ăn chế biến sẵn như vậy có hàm lượng chất béo cao, rất dễ dàng vượt mức và làm tăng nguy cơ béo phì.
Tăng nguy cơ mắc bệnh mãn tính: Việc tiêu thụ thường xuyên hàm lượng chất béo vượt quá mức cho phép sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh mỡ máu cao; và nếu hàm lượng muối tiêu thụ vượt mức sẽ gia tăng nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao.
Một ví dụ khác từ món kho thịt, hàm lượng natri lên đến 1110mg/100g, chuyển đổi thành muối là 2.7g muối. Một hộp thịt kho thường có trọng lượng 500g, cho 2-3 người. Ngay cả khi mỗi người ăn 150g, thì lượng muối đã lên tới 4g. Trong khi “Hướng dẫn dinh dưỡng cho cư dân Trung Quốc” đề xuất, mỗi người không nên ăn quá 5g muối mỗi ngày, thì chỉ riêng một bữa đã bằng 4g, thật dễ dàng vượt mức tiêu thụ.
Còn một ví dụ khác là gói thức ăn thịt kho măng, gói nguyên liệu chính nặng khoảng 96g. hàm lượng natri lên đến 1021mg/100g, qui đổi thành muối khoảng 2.5g, chiếm 50% lượng được khuyến nghị, con số này cũng không nhỏ.
Ngoài ra, các nhà phân tích tại Ai Media cho rằng, đa số người tiêu dùng khá chấp nhận các món ăn chế biến sẵn, nhưng lại ưa thích các món có vị mặn và cay. Mặn có nghĩa là hàm lượng muối cao, còn cay có nghĩa là dầu nhiều. Nói cách khác, phần lớn món ăn chế biến sẵn mà mọi người thường ăn là cao dầu mỡ, cao muối, việc ăn thường xuyên không có lợi cho sức khỏe.
04
Nếu muốn ăn, làm thế nào để cân bằng dinh dưỡng?
Dù việc thường xuyên ăn món chế biến sẵn có thể không tốt cho sức khỏe, nhưng đối với những người làm việc bận rộn, món ăn chế biến sẵn thực sự là nhu cầu cần thiết để lấp đầy cái dạ dày trong giờ làm việc, rất khó để từ bỏ. Hơn nữa, ngay cả khi đặt đồ ăn cũng không thể thoát khỏi sự chuẩn bị của món ăn chế biến sẵn. Trong tình huống này, làm thế nào để vừa đảm bảo “đầy đủ” vừa “dinh dưỡng”?
Chú ý đến sự kết hợp giữa thịt và rau: Khi gọi món nên chọn những món có cả thịt và rau, đặc biệt là có rau lá xanh, hoặc yêu cầu nhà hàng đặt riêng một phần rau lá xanh. Nếu không thể, hãy gọi món một món nhiều thịt, một món rau, và ăn cùng đồng nghiệp, nhà hàng cũng có thể nhanh chóng xào rau.
Tránh các phương pháp chế biến nhiều dầu mỡ: Cố gắng tránh gọi những món như thịt xào, cá nước, thịt viên chiên, đậu xào,… những món này thường chứa hàm lượng dầu và muối rất cao.
Mang theo rau và ngũ cốc: Đối với những người thường xuyên gọi đồ ăn giao tận, nên tự mang theo một số loại rau tiện lợi, như rau xà lách, dưa chuột, cà chua, cà rốt… những loại này đều có thể rửa sạch và ăn sống. Cũng có thể mang khoai lang nướng, ngô luộc hoặc yến mạch làm một phần món chính, tăng cường lượng ngũ cốc thô.
Kiểm tra bảng thành phần dinh dưỡng: Nếu mua món chế biến sẵn có đóng gói, hãy chú ý đến bảng thành phần dinh dưỡng, xem hàm lượng chất béo và natri để lựa chọn món có lượng hai thành phần này ở mức thấp hơn. Mỗi bữa ăn nên kiểm soát lượng chất béo dưới 10g, natri dưới 800mg, natri ≥800mg/100g thì được xem là thực phẩm mặn.
Cuối cùng, mọi người cũng cần lưu ý rằng nên lựa chọn những nhà hàng lớn khi gọi món; và chọn những thương hiệu lớn có uy tín khi mua món ăn chế biến sẵn đóng gói.
Kết luận
Sự xuất hiện của món ăn chế biến sẵn có thể coi như “đem lại lợi ích cho nhân loại”, vì bây giờ số người không biết nấu ăn ngày càng nhiều, bận việc học, bận việc làm, thực sự không có thời gian để nấu ăn. Ngay cả những người biết nấu ăn cũng gặp khó khăn với những món khó như thịt xào, thịt viên, cá sẻ hạt, món Phật nhảy tường.. cũng khó khăn để thực hiện, lựa chọn gọi món chế biến sẵn để tiết kiệm thời gian và công sức.
Vì vậy, món ăn chế biến sẵn vẫn có triển vọng phát triển tốt. Còn về việc món ăn dễ gây ảnh hưởng đến các nhà hàng truyền thống không, tôi cho rằng không ảnh hưởng lớn, vì hương vị món chế biến sẵn đều giống nhau, trong khi nhà hàng có thể tạo ra hương vị đặc trưng của riêng mình để thu hút thực khách. Hơn nữa, khi mọi người liên hoan tụ tập ăn uống thì cũng không lựa chọn ăn món chế biến sẵn mà sẽ đến nhà hàng để thưởng thức món đồ mới chế biến.
Tài liệu tham khảo:
[1] Ai Media
[2] Vương Toàn, Cao Quần Ngọc, Lâu Văn Dũng. Tình trạng phát triển và xu hướng ngành món ăn chế biến sẵn tại Trung Quốc.
[3] Tiêu Dương, Trương Ngọc Khải, Quách Bối Bối, Trần Hải Đằng, Tôn Bảo Quốc, Trương Ngọc Ngọc. So sánh các thành phần hương vị dễ bay hơi trong món thịt xào cá chế biến bằng hai phương pháp.[4]
[4] Hiệp hội dinh dưỡng Trung Quốc. Hướng dẫn dinh dưỡng cho cư dân Trung Quốc.